Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau ...
Văn mẫu lớp 10

Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau …

Loading...

Bình giảng bài ca dao:

“Ai về cuốc đất trồng cau,
Cho em vun ké dây trầu một bên.
Chừng nào trầu no bén lên,
Cau kia có trái lập nên cửa nhà

Bài làm

Mở bài: Giới thiệu bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau …

Ca dao tình yêu rất đa dạng, phong phú về vần điệu và giọng điệu. Và là những vần thơ lục bát “dịu ngọt” nhưng nó đã đem đến cho ta nhiều cảm xúc đẹp bởi lẽ “Thì ân ái có bao giờ lại cũ”  (“Phải nói” – Xuân Diệu). Trong “vườn tình ái của làng quê xưa có tiếng hát tỏ tình của chàng thợ mộc Thanh Hóa:

Một đèn đọc sách ngâm thơ,
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây”.
Có tiếng hát ghẹo của anh trai cày:
“… Giúp em quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau”.

Có tiếng hát chờ mong ước hẹn: “Ước gì anh lấy được nàng… Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân”. Có tiếng hát giao duyên của “mận” và “đào”.

“Vườn hồng đã cố ai vào hay chưa ?”
I”Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”.

Và còn có tiếng hát giã bạn. Chợ đã tan, hội đã tàn, kẻ về người ở lại, duyên thầm mới “bén”, bâng khuâng lưu luyến vơi đầy. Cùng với hình ảnh cô gái xinh tươi, là lời ước hẹn chờ mong mà chàng trai có bao giờ nguôi quên:

“Ai vẽ cuốc đất trồng cau,
Cho em vun ké dây trầu một bên.
Chừng nào trầu nọ bén lên,
Cau kia có trái, lập nên cửa nhà “
Hai câu đầu bài ca là lời nhắn gửi với bao tình lưu luyến.
“Ai về cuốc đất trồng cau,
Cho em vun ké dây trầu một bén”.

Thân bài: Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau …

Chữ “ai” trong hai vế là đại từ nhân xưng phiếm chi. Trong bài ca này, Văn cảnh này là ngầm chỉ “anh ấy”, “người ấy”, “chàng trai ấy” giữa hàng trăm, hàng ngàn người trong ngày hội xuân, tuy “em” mới gặp nhưng đã nặng tình yêu thương. Có thể là “em” đã được mời trầu, “em” đã biết tên ? Chữ “ai” rất tinh tế biểu cảm, gợi nhiều man mác bâng khuâng. Có văn bản khác ghi là “Anh về cuốc đất trồng cau” đã làm giảm đi ít nhiều “chút duyên thầm” thiếu nữ. Chữ “ai về” ta thường bắt gặp trong ca dao nói về tình yêu, tình thương nhớ, chờ đợi của lứa đôi trong li biệt:

“Ai về ai ở mặc ai,
Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh”.
“Ai về đường ấy hôm mai,
Gửi dăm điều nhớ, gửi vài điều thương”.
“Ai về ai nhớ bây giờ nhớ ai..”

Hãy “cuốc đất trồng cau” để vun đắp cho mối tình đẹp mới nảy nở, đó là “lời em dặn dò”( “Ai về..”) người mà em tin cậy và yêu thương “cho em vun ké dây trầu một bên”. “Vun ké” nghĩa vun đất, trồng thêm vào bên cạnh một cây khác đã trồng trước đồ rồi. Cách tỏ tình thật là kín đáo về mối lương duyên. Bốn chữ “vun ké… một bên” gửi gắm niềm tin cậy, nương tựa được chở che. Đó là niềm mong ước của thiếu nữ vé một tình yêu hạnh phúc.

Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau ...
Bình giảng bài ca dao Ai về cuốc đất trồng cau …

Hai câu ca gợi lên một liên tưởng đẹp vẻ tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa anh em thủy chung, son sắt gắn bó trong sự tích Trầu – Cau ngày xưa. Cây cau của “ai trồng sẽ xanh tốt, thân cau cao vút thẳng tắp, tàu cau xanh biếc, tỏa bóng mát chở che. Dây trầu yếu mềm được “vun ké một bên” đã quấn vào thân cau, ngày một thêm tươi tốt. Qua đó, ta cảm nhận lời giã bạn trong ngày hội tàn cung là lời tỏ tình rất chận tình và tinh tế. Cau và trầu sẽ mãi mãi xanh tươi như tình yêu thắm thiết thủy chung của đôi lứa.

Hai câu ca tiếp theo nói lên nỗi ước mong của cô gái vé một tình duyên hạnh phúc:

“Chừng nào trầu nọ bén lên,
Cau kia có trái, lập nên cửa nhà”.

“Chừng nào” là cách ướm hỏi, mộc mạc và dân dã, nghĩa là đến khi nào, đến ngày nào, một tương lai gần, thể hiện sự mong mỏi đợi chờ, tin tưởng. Thời gian chờ đợi là niềm hy vọng. Trầu nọ” thì “bén lên” mọc lên xanh tốt. “Cau kia” thì “có trái”. Trầu và cau sẽ tốt tươi, phát triển cùng cây lá mùa xuân. “Trầu nọ” và “cau kia” là cách nói đưa duyên tình tứ. “Trầu” và “cau” đối xứng hòa hợp như tâm hồn đôi lứa đẹp lên trong một mối lương duyên đang nảy nở. Chữ “bén” dùng rất hay, vừa cổ kính vừa chân quê. Dây trầu mới trồng, mới “vun ké” chỉ sau một thời gian ngắn mọc rẻ, tiếp nhận màu mỡ của đất mà bén lên, mọc lên xanh tốt. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” (Tục ngữ). Thiếp bén duyên chàng có thế thôi” (Hồ Xuân Hương). Bao tình ý và hi vọng về tình duyên được cô gái gửi gắm trong một chữ bén ấy. Nếu đổi thành, “Chừng nào trầu nọ bén lên” thì hai chữ “lớn lên” đã vật chất hóa tâm tình thôn nữ, làm giảm đi vẻ đẹp nhân văn của bài ca giã bạn.

Và khi “trầu nọ bén lén” cũng là lúc “cau kia có trái” sự vật cùng diễn ra đúng qui luật sự sống và nỗi chờ mong của lòng “em”. Duyên trầu – cau cũng là duyên đôi lứa “Lập nên cửa nhà”, em và anh thành gia thất. “Lập nên cửa nhà” là lúc “anh đón em về, ta ở cùng nhau” dưới mái ấm gia đình yên vui, hạnh phúc. Ước mong ấy thật chân thành, hồn hậu. Mọi ước mong đều đẹp.

Niềm ước mọng của thiếu nữ về tình yêu hạnh phúc càng đẹp.

Tình yêu của cô gái được thể hiện trong bài ca giã bạn này rất nồng nàn, tha thiết. Ước mong về mối tình sẽ phát triển, nảy nỡ tốt đẹp như “trầu nọ bén lên” cùng “cau kia cố trái” tin tưởng về một hôn nhân tốt đẹp, anh và em sẽ “lập nên cửa nhà” nên vợ nên chồng. Qua đó, ta thấy bài ca đã phản ánh một quan niệm tốt đẹp, lành mạnh, trong sáng của người lao động về tình yêu – hôn nhân – gia đình hạnh phúc.

“Ai về cuốc đất trồng cau ” là bài ca giã bạn – tỏ tình rất hay và ý vị. Thông thường, lễ hội càng động vui bao nhiều thì ngày hội tàn, giây phút giã bạn cằng buồn bấy nhiêu ! Nhất là tâm trạng của các chàng trai, cô gái mới “quen nhau“ trong lễ hội. Ở bài ca dao này cũng vậy, thoáng hiện lên một nỗi buồn chia tay đối với kẻ ở người về. Tuy vậy, nó là bài ca dao giao duyên và hi vọng. Cô gái đã mượn trầu – cau làm ẩn dụ, để tỏ tình, trao duyên và ước hẹn về một tình duyên đẹp. Trong tiếng hát giã bạn của cô gái đã ngụ ý sự trao thân gửi phận, ước mong đợi chờ về mối lương duyên nên vợ nên chồng, thật dễ thương và đáng trân trọng.

“Ai về cuốc đất trồng cau” là một bài ca dao cổ có nhiều từ ngữ mộc mạc, dân dã, tình tứ, hồn nhiên như: “cuốc đất trồng cau”, “vun ké dây trầu”, “trầu nọ”, “cau kia”, “bén lên”, “có trái”, “lập nên cửa nhà”. Nó đã thể hiện tâm tình thôn nữ nơi bờ tre ruộng lúa, nương dâu khao khát về tình yêu hạnh phúc gia đình. Nó đã làm sống lại không khí giã bạn trong lễ hội dân gian mùa xuân ngày xưa. Phải chăng “trầu nọ, cau kia” trong bài ca dao đã nhập hồn vào thơ Nguyễn Bính sau này như bạn trẻ gần xa đã biết:

“Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào…”

Trong cuốn “Ca dao Việt Nam” giáo sư Đinh Gia Khánh có giới thiệu bài ca dao này bằng một văn bản hơi khác, đọc lên cảm thấy ít nhiều “hiện đại”:

“Anh về cuốc đất trồng cau,
Cho em trồng ké dây trầu một bên.
Mai sau trầu nọ lớn lên,
Cau kia ra trái, làm nên cửa nhà “.

Kết bài: suy nghĩ về câu ca dao Ai về cuốc đất trồng cau …

Dị bản trong ca dao dân ca là chuyện thường tình. Tuy vậy, được thưởng thức những bài thơ dân gian cố màu sác cổ kính, có ngôn từ mộc mạc, dân dã, ta vẫn cảm thấy thú vị hơn nhiều.

Loading...

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *